Đây là thắc mắc khá thường gặp ở BN bệnh thận mạn (CKD). Khi đi khám, BN được kê thuốc điều trị THA, giảm protein niệu, kiểm soát ĐTĐ, rối loạn lipid máu hoặc acid uric, nhưng lại không thấy loại thuốc nào mang tên “thuốc chữa thận”.
– Thực tế, điều trị những rối loạn trên chính là một phần quan trọng của điều trị bảo vệ thận.CKD thường tiến triển âm thầm, khi một phần nhu mô thận đã xơ hóa, rất khó phục hồi hoàn toàn. Vì vậy, mục tiêu điều trị không chỉ là làm giảm creatinine mà quan trọng hơn là bảo tồn chức năng thận còn lại, làm chậm tiến triển bệnh và phòng ngừa biến chưng.
– THA và protein niệu là những yếu tố quan trọng liên quan đến tiến triển CKD. Kiểm soát HA, giảm protein niệu, điều trị ĐTĐ và sử dụng các thuốc có tác dụng bảo vệ thận như ACEi/ARB, SGLT2i khi có chỉ định có thể giúp làm chậm suy giảm MLCT. Điều trị rối loạn lipid máu chủ yếu nhằm giảm nguy cơ tim mạch, vốn rất cao ở BN CKD. Riêng tăng acid uric máu cần được đánh giá theo chỉ định cụ thể, không phải cứ acid uric cao là cần dùng thuốc để bảo vệ thận.
Tất nhiên, điều trị CKD phải bắt đầu bằng xác định nguyên nhân. Một số bệnh thận có phương pháp điều trị đặc hiệu, trong khi nhiều trường hợp cần điều trị lâu dài nhằm kiểm soát các yếu tố thúc đẩy bệnh tiến triển.
– Điều trị CKD thành công kg nhất thiết phải làm creatinine trở về bình thường. Một BN duy trì được MLCT ổn định, protein niệu giảm, HA được kiểm soát và không xuất hiện biến chứng trong nhiều năm đã đạt được kết quả điều trị có ý nghĩa.Vì vậy, khi BS kê thuốc HA, thuốc giảm protein niệu hoặc thuốc kiểm soát các rối loạn chuyển hóa, không có nghĩa là bệnh thận bị bỏ quên. Đó có thể chính là những biện pháp quan trọng nhất để giữ chức năng thận còn lại.
Trong điều trị CKD, mục tiêu khg chỉ là cải thiện một chỉ số xét nghiệm hôm nay, mà là giúp BN giữ được chức năng thận thêm nhiều năm và trì hoãn thời điểm phải điều trị thay thế thận.