Khi khám bệnh, chúng tôi gặp khá nhiều BN có bệnh thận mạn, MLCT giảm, khi được chỉ định chụp CT có thuốc cản quang hoặc MRI có thuốc đối quang từ thì rất lo: “Thận tôi đã yếu, tiêm thuốc vào có suy nặng thêm khg Bs?”. Có BN vì quá sợ nên trì hoãn hoặc từ chối chụp, cuối cùng làm chậm chẩn đoán một bệnh quan trọng. Bs chúng tôi hiểu nỗi lo ấy, nhưng điều đáng lo hơn đôi khi lại là vì quá sợ ảnh hưởng đến thận mà chúng ta bỏ lỡ cơ hội chẩn đoán bệnh sớm.
– Trước đây, chúng ta thường cho rằng thuốc cản quang iod dùng khi chụp CT rất độc thận. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy nguy cơ tổn thương thận thực sự do thuốc cản quang thấp hơn nhiều so với những gì chúng ta từng nghĩ. Không ít trường hợp creatinine tăng sau chụp trước đây được quy cho thuốc cản quang, trong khi BN đồng thời có thể bị mất nước, nhiễm trùng, tụt huyết áp, suy tim hoặc sử dụng các thuốc ảnh hưởng đến thận.
– Vấn đề quan trọng nhất là chức năng thận của BN đang ở mức nào và tình trạng lâm sàng có ổn định hay khg:
+ Với BN có eGFR ≥45 mL/phút/1,73 m² và chức năng thận ổn định, nguy cơ tổn thương thận do thuốc cản quang iod đường tĩnh mạch nhìn chung rất thấp.
+Khi eGFR 30–44, phần lớn BN ổn định vẫn có thể chụp khi có chỉ định, nhưng Bs cần đánh giá thêm các yếu tố nguy cơ.
+ Khi eGFR <30 hoặc BN đang có suy thận cấp, cần thận trọng hơn.
Tuy nhiên, thận trọng khg có nghĩa là cấm chụp. Nếu CT có cản quang thực sự cần thiết để phát hiện một bệnh quan trọng, Bs sẽ cân nhắc lợi ích – nguy cơ, lựa chọn phương án phù hợp, bù dịch khi cần và theo dõi chức năng thận. Các khuyến cáo hiện nay cũng nhấn mạnh rằng CKD nặng là tình huống cần cân nhắc kỹ chứ khg phải cứ suy thận là tuyệt đối khg được dùng thuốc cản quang.
Còn MRI có thuốc đối quang từ thì sao?
– Trước đây, chúng ta lo ngại biến chứng xơ hóa hệ thống do thận (NSF) liên quan đến một số thuốc chứa gadolinium ở BN suy thận nặng. Nhưng hiện nay, với các thuốc gadolinium nhóm II được ưu tiên sử dụng, nguy cơ này cực kỳ thấp, kể cả ở BN eGFR <30. Một phân tích lớn trên 4.931 lần sử dụng thuốc nhóm II ở BN CKD giai đoạn 4–5 khg ghi nhận trường hợp NSF nào. Điều này khg có nghĩa nguy cơ tuyệt đối bằng 0, nhưng cho thấy nguy cơ rất thấp.
Vì vậy, tôi thường nói với BN : Nếu chúng ta khg dám chụp CT có tiêm thuốc vì sợ thận kém đi, nhưng nếu khg chụp không thể tìm ra bệnh thậm chí bệnh ác tính, khi đó chúng ta mất cả tính mạng, mà khi mất tính mạng thì liệu khi đó giữ thận để làm gì. Nói điều này không phải là BS khg quan tâm đến thận, mà muốn nói lên điều quan trọng của chẩn đoán bệnh khi cần.”
Ví dụ một BN đái máu nghi u đường tiết niệu, khối u thận, tắc nghẽn đường niệu; một BN đau ngực cần đánh giá mạch vành, nghi thuyên tắc động mạch phổi, bệnh động mạch chủ, ung thư hoặc một bệnh lý khác cần chẩn đoán sớm… nếu chỉ vì sợ thuốc cản quang mà trì hoãn chụp thì nguy cơ do chậm chẩn đoán đôi khi lớn hơn nhiều nguy cơ đối với thận.
Đương nhiên, điều đó khg có nghĩa BN suy thận có thể chụp tùy ý. Trước khi chụp, Bs cần xem xét creatinine, eGFR, suy thận cấp hay CKD, tình trạng mất nước, suy tim, nhiễm trùng, các thuốc đang sử dụng và liệu có phương pháp chẩn đoán khác thay thế được hay khg. Việc truyền dịch bảo vệ thận cũng phải cá thể hóa; BN CKD hoặc suy tim khg nên tự ý uống hoặc truyền thật nhiều nước vì có thể gây quá tải dịch.
Điều tôi muốn nhắn với BN có bệnh thận là: có bệnh thận khg đồng nghĩa với khg được chụp CT có cản quang hoặc MRI có đối quang từ. Thuốc cản quang khg phải hoàn toàn khg có nguy cơ. Nhưng nếu được chỉ định đúng, đánh giá đúng chức năng thận, lựa chọn thuốc phù hợp và dự phòng hợp lý, nguy cơ thường có thể kiểm soát được.Đừng vì quá sợ làm tăng một con số creatinine mà bỏ lỡ cơ hội phát hiện sớm một căn bệnh nguy hiểm.
Khi Bs đã biết BN có bệnh thận mà vẫn đề nghị chụp, BN nên trao đổi kỹ với Bs về lợi ích và nguy cơ. Quyết định cuối cùng nên dựa trên cân bằng lợi ích – nguy cơ, chứ khg nên chỉ dựa trên nỗi sợ. Trong nhiều trường hợp, điều đáng sợ khg phải là thuốc cản quang, mà là căn bệnh chúng ta đã chậm phát hiện vì khg dám chụp.