Viết tắt: CKD – bệnh thận mạn; KS- Kháng sinh; BN= bệnh nhân.
Ca lâm sàng thực tế: thiếu máu do KS;
– Một BN Nhiễm khuẩn tiết niệu phức tạp điều trị Linezolid kéo dài trên hai tuần, trong quá trình điều trị nhiễm trùng thoái lui tốt. Nhưng thiếu máu tăng dần ở tuần thứ 3: BN đã được kiểm tra loại trừ: Bênhj tự miễn, nội soi tiêu hóa: không có nguồn chảy máu,điện di miễn dịch: sinh thiết tủy xương: bình thường,tức là gần như tất cả các nguyên nhân gây thiếu máu khác đều đã được loại trừ. Chỉ khi quay lại một câu hỏi rất cơ bản: Bệnh nhân đã đang dùng thuốc gì? thì vấn đề mới được giải quyết. Linezolid được nhận diện là yếu tố nguy cơ chính do:thời gian dùng kéo dài > 14 ngày,nền bệnh thận.Sau khi ngừng thuốc, hemoglobin của bệnh nhân dần cải thiện mà không cần can thiệp đặc hiệu.
– Khi đứng trước một bệnh nhân có thiếu máu- đặc biệt là BN bệnh thận mạn, phản xạ đầu tiên của nhiều bác sĩ thường là quy nguyên nhân cho giảm sản xuất erythropoietin hoặc tình trạng viêm mạn tính. Điều này không sai, nhưng lại tiềm ẩn một nguy cơ lớn: bỏ sót các nguyên nhân có thể đảo ngược, trong đó quan trọng nhất là thiếu máu do thuốc, đặc biệt là kháng sinh.
1. Cơ chế gây thiếu máu của kháng sinh, nhìn từ sinh lý bệnh;
– Về bản chất, kháng sinh có thể gây thiếu máu theo ba hướng chính:
Ức chế sản xuất hồng cầu tại tủy, Phá hủy hồng cầu trong tuần hoàn, Làm rối loạn chuyển hóa cần thiết cho quá trình tạo máu.
1.1. Thứ nhất, ức chế tủy xương;
– Đây là cơ chế quan trọng nhất và cũng là cơ chế hay gặp nhất trong thực hành nội khoa.
– Các thuốc điển hình như Linezolid, chloramphenicol hay Trimethoprim-sulfamethoxazole có khả năng ức chế quá trình tổng hợp protein của tế bào. Điều đáng chú ý là cơ chế này không chỉ xảy ra ở vi khuẩn mà còn ảnh hưởng đến tế bào tủy xương của người, đặc biệt là các tế bào đang tăng sinh mạnh như dòng hồng cầu.
– Riêng với linezolid, cơ chế còn sâu hơn: thuốc tác động lên ribosome ty thể, làm rối loạn chức năng ty thể- một yếu tố then chốt trong tổng hợp heme. Chính vì vậy, thiếu máu do linezolid không chỉ đơn thuâfn là giảm sinh mà còn mang đặc điểm của rối loạn chuyển hóa nội bào, đôi khi giông thiếu máu sideroblastic.
1.2. Thứ hai, thiếu máu tan máu do miễn dịch.
– Một số KS, đặc biệt là beta-lactam như penicillin hoặc cephalosporin (ví dụ Ceftriaxone), có thể gây phản ứng miễn dịch chống lại hồng cầu.
– Trong cơ chế này, thuốc đóng vai trò như một “kháng nguyên không hoàn chỉnh”, kích thích cơ thể tạo kháng thể. Các kháng thể này gắn vào hồng cầu và gây phá hủy chúng trong tuần hoàn hoặc tại lách.
– Biểu hiện lâm sàng thường rầm rộ hơn: Hb giảm nhanh, vàng da, tăng bilirubin gián tiếp, Coombs test dương tính.Đây là dạng thiếu máu có thể diễn biến nặng, cần nhận diện sớm để tránh biến chứng.
1.3. Thứ ba, tan máu do stress oxy hóa và rối loạn chuyển hóa;
– Một số thuốc như Trimethoprim-sulfamethoxazole(TMS-SMX), dapsone hay nitrofurantoin có thể gây tan máu ở bệnh nhân thiếu men G6PD. Cơ chế là làm tăng stress oxy hóa, khiến hồng cầu dễ bị phá vỡ.
– Ngoài ra, TMP-SMX còn có thể ức chế chuyển hóa folate, dẫn đến thiếu máu hồng cầu to.
2. Tại sao BN CKD lại đặc biệt dễ bị?
– Ở bệnh nhân CKD, có 3 yếu tố làm tăng nguy cơ thiếu máu do kháng sinh:
– Tích lũy thuốc : do giảm chức năng thận, nhiều kháng sinh không được thải trừ hoàn toàn làm nồng độ thuốc tăng độc tính tủy xương rõ hơn.
– Nền tủy xương đã bị ảnh hưởng sẵn: Bn CKD vốn đã: giảm sản xuất EPO, do có viêm mạn tính,làm tủy xương dễ bị ảnh hưởng hơn khi có thêm yếu tố độc từ thuốc.
– Dễ bị che lấp chẩn đoán: khi Hb giảm, rất dễ bị quy cho: tiến triển CKD,thiếu sắt,viêm làm trì hoãn chẩn đoán nguyên nhân thực sự.
3. Bài học thực hành và thông điệp muốn chuyển tải
Ca này cho một bài học:
– Thiếu máu ở BN CKD không phải lúc nào cũng là do thận
– Không phải thiếu máu nào cũng cần mở rộng xét nghiệm hết các nguyên nhân ngay, mà quan trọng nhất: chẩn đoán thiếu máu do thuốc chỉ xuất hiện khi người thầy thuốc chủ động nghĩ đến nó
– Kháng sinh là một nguyên nhân quan trọng nhưng dễ bị bỏ sót của thiếu máu, đặc biệt ở bệnh nhân CKD. Trong đó, linezolid là một thủ phạm kinh điển với cơ chế ức chế tủy xương và độc tính ty thể.
– Việc nhận diện sớm không chỉ giúp tránh các xét nghiệm không cần thiết mà còn mang lại hiệu quả điều trị rất rõ ràng, đôi khi chỉ bằng một hành động đơn giản: ngừng đúng thuốc, đúng thời điểm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Young NS, Abkowitz JL, Luzzatto L. New insights into the pathophysiology of acquired cytopenias.N Engl J Med. 2000;342(20):1493–1502.
2. De Vriese AS, Coster RV, Smet J, et al.Linezolid-induced inhibition of mitochondrial protein synthesis.Clin Infect Dis. 2006;42(8):1111–1117.
3. Nagler M, Keller P, Siegrist D, et al.Drug-induced immune hemolytic anemia.Transfus Med Rev. 2013;27(4):226–232.
4. Garratty G.Immune hemolytic anemia associated with drug therapy.Blood Rev. 2010;24(4–5):143–150.
5. Pirmohamed M. Drug-induced blood disorders: mechanisms and management. Br J Clin Pharmacol. 2010;70(1):1–12.