PGS. Tuyển chia sẻ về Tăng huyết áp (THA) và bệnh thận mạn tính (phần 1)

– Sự kết hợp giữa tăng huyết áp (THA) và bệnh thận mạn tính đã được biết từ lâu, THA thứ phát do bệnh thận là nguyên nhân thường gặp nhất. Suy thận càng nặng, tỉ lệ THA càng cao. Tăng HA gặp trong 80% các trường hợp suy thận mạn giai đoạn cuối, ở giai đoạn bắt đầu lọc máu. Ngược lại, thận là một trong những cơ quan đích thường bị tổn thương trong THA tiên phát, khi thận bị tổn thương lại càng làm cho THA thêm trầm trọng.Tăng HA là biểu hiện thường gặp và cũng rất khó điều chỉnh ở bệnh suy thận mạn. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy, tỉ lệ THA gặp từ 80- 90 % ở giai đoạn bắt đầu lọc máu.THA là nguyên nhân chính của các bệnh lí tim mạch và cũng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn hoặc suy thận mạn.

– Khi nào một người được chẩn đoán mình đã mắc bệnh thận mạn hoặc suy thận mạn? Một người được coi là mắc bệnh thận mạn khi có 1 trong hai tiêu chuẩn:

1. Là tổn thương cấu trúc hoặc chức năng thận kéo dài trên 3 tháng, có kèm hoặc không kèm giảm GFR, bao gồm tổn thương bệnh học thận (trên sinh thiết) hoặc bất thường trong xét nghiệm nước tiểu hoặc máu, hoặc trên chẩn đoán hình ảnh, hoặc

2. GFR nhỏ hơn 60ml/phút/ 1.73m2 kéo dài trên 3 tháng, có kèm hoặc không kèm tổn thương thận.

– Dựa vào yếu tố nào để đánh giá có tổn thương thận? Có nhiều dấu ấn, tuy nhiên trên thực hành lâm sàng chủ yếu dựa vào: Albumin niệu: là dấu ấn (marker) để đánh giá tổn thương thận, gợi ý đến tình trạng có tổn thương ở cầu thận gây tăng khả năng thấm cầu thận và làm albumin bị lọc và có trong nước tiểu. Có thể đánh giá có albumin trong nước tiểu hay không bằng: cách thu thập nước tiểu theo thời gian thường theo 24h, que nhúng hoặc phổ biến nhất là tỉ số albumin/creatinin niệu (ACR) mẫu nước tiểu ngẫu nhiên. ACR bình thường < 10mg/g.

Suy thận mạn (Chronic renal failure): Là tình trạng suy giảm chức năng thận mạn tính không hồi phục theo thời gian nhiều tháng, nhiều năm, do tổn thương không hồi phục về số lượng và chức năng của các nephron. Cần phân biệt rõ bệnh thận mạn tính và suy thận mạn tính. Khái niệm bệnh thận mạn tính đã bao hàm cả suy thận mạn. Như vậy khi 1 người được chẩn đoán bệnh thận mạn tính không đồng nghĩa vớ suy thận mạn, mà cần biết mình ở giai đoạn nào.Bệnh nhân chỉ được coi là suy thận mạn khi mắc bệnh thận mạn có mức lọc cầu thận < 60ml/phút tương ứng với bệnh thận mạn giai đoạn III, IV, và V ( MLCT này do bác sĩ sẽ tính dựa trên nồng độ creatinin máu và một số yếu tố khác)

Mức huyết áp nào mắc bệnh Tăng huyết áp (THA) ?

Khi HA tâm thu ≥ 140mmHg và/ hoặc HA tâm trương ≥ 90mmHg ( JNC 7)- (Đo đúng kỹ thuật và hướng dẫn)

Tại sao khi mắc bệnh thận mạn lại có tăng huyết áp

Một số yếu tố sau gây nên THA ở bệnh thận mạn:

Thừa thể tích dịch ngoài tế bào (extra-cellular volume) do thừa muối và nước ; Thận điều hoà huyết áp thông qua sự điều hoà bài tiết nước- muối, từ đó kiểm soát thể tích tuần hoàn và cung lượng tim. Ngược lại, những thay đổi về huyết áp sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên sự bài tiết muối và nước của thận. Khi thận suy, không đủ khả năng điều chỉnh cân bằng muối- nước dẫn đến ứ trệ muối và kéo theo là giữ nước, dẫn đến gia tăng thể tích dịch ngoài tế bào và tăng cung lượng tim gây nên THA. Hiện tượng này dẫn đến sự tăng sức cản của mạch máu toàn thân góp phần gây THA.

Vai trò của hệ Renin-Angiotensin- Aldosteron: Sự tăng hoạt hoá hệ renin-angiotensin khi thận bị tổn thương là một yếu tố quan trọng trong sinh bệnh học của THA ở BN suy thận mạn. Có nhiều yếu tố hỗ trợ vai trò của hệ renin-angiotensin trong sinh bệnh học THA: Có sự liên hệ bất thường giữa natri trao đổi được hay thể tích máu với hoạt động renin huyết tương hoặc nồng độ angiotensin II huyết tương. Điều này gợi ý rằng ngay cả khi nồng độ renin huyết tương bình thường trong một số trường hợp, vẫn có thể là cao đối với sự dư thừa natri và tăng thể tích dịch.

Tăng hoạt tính giao cảm : Thận có hệ thống các sợi thần kinh cảm giác và các thần kinh tiếp nhận. Có hai loại thụ thể chính:Thụ thể nhận cảm áp lực: Nó đáp ứng với các thay đổi về lưu lượng máu đến thận và áp lực trong thận.Thụ thể hoá học được kích thích do các chất chuyển hoá sinh ra do tình trạng thiếu máu cục bộ hay các độc tố do thận suy không được đào thải. Chúng có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các khu vực ở hệ thần kinh trung ương gây nên THA.

Suy giảm chức năng nội mạch dẫn đến giảm khả năng đáp ứng giãn mạch đối với các tác nhân giãn mạch: Lớp nội mạc mạch máu có vai trò quan trọng trong điều hoà lưu lượng máu và trở kháng thành mạch tại chỗ thông qua các yếu tố co mạch và giãn mạch có nguồn gốc nội mạc.Các chất co mạch có nguồn gốc nội mạc như endothelin( ET). Khi có tổn thương nội mạc, các chất như cytokin, thrombin, các hormon vận mạch như epinephrine, angiotensine II, vasopressin sẽ kích thích giải phóng ra chất co mạch endothelin. Một số chất giãn mạch có nguồn gốc nội mạc như nitric oxyde(NO), prostacycline. NO do nội mạc sản sinh ra, có tác dụng giãn mạch, ức chế ngưng tập tiểu cầu, sau này được Ở BN lọc máu có tăng dimethyl-l- arginine ( ADMA)- chất gây ức chế sự tổng hợp nitric oxid của tế bào nội mạch. Giảm độ đàn hồi mạch do xơ cứng động mạch cũng dẫn đến tăng HA.

Vai trò của cường cận giáp thứ phát :Cường tuyến cận giáp thứ phát là bệnh lý tăng hoạt tuyến cận giáp xảy ra thứ phát sau những rối loạn nguyên phát khác, chủ yếu là do suy thận mạn, nguyên nhân gây tăng huyết áp ở đây chủ yếu là do tăng nồng độ canxi trong tế bào.Rối loạn Ca-P là biểu hiện chính và hậu quả của tình trạng này gây nên Canxi hóa mạch máu lan tỏa, hậu quả góp phần làm tăng huyết áp.

Tăng huyết áp do dùng erythropoietine: Điều trị thiếu máu bằng erythropoietine cũng là một yếu tố góp phần gây tăng HA, nhất là ở trường hợp dùng liều cao, điều chỉnh thiếu máu quá nhanh .Cơ chế gây tăng HA còn nhiều tranh cãi tuy nhiên: erythropoietine làm tăng hồng cầu, làm giảm NO góp phần gây tăng HA. Trong giai đoạn tấn công, hay duy trì cần theo dõi huyết áp. Khi huyết áp tăng phải điều chỉnh liều erythropoietine và liều thuốc huyết áp.Không dùng cho người cao huyết áp không kiểm soát được.
Một số yếu tố khác: Do tăng nồng độ các độc tố do hậu quả của suy thận mạn tính,Các yếu tố địa lý,thời tiết, Phương pháp điều trị hiện tại nhất là BN đã điều trị thay thế thận suy. Các yếu tố liên quan đến gene…

Biến chứng suy thận do tăng huyết áp

Một trong những biến chứng nguy hiểm của bệnh nhân tăng huyết áp là suy thận. Tăng huyết áp dù được điều trị nhưng chưa đạt huyết áp mục tiêu vẫn có nguy cơ bị suy thận. Bởi vậy, để phòng ngừa biến chứng nguy hiểm này, bệnh nhân cần kiểm soát tốt huyết áp.Tăng huyết áp kéo dài sẽ làm tổn thương và phá hủy các mạch máu trong cơ thể, làm giảm lượng máu cung cấp đến thận và các cơ quan khác. Huyết áp tăng cao còn gây tổn thương cầu thận, khiến thận không thể loại bỏ những chất cặn bã độc hại cũng như nước dư thừa ra ngoài dẫn đến suy thận mạn.Trong cơ thể, thận có vai trò giữ cho huyết áp được ổn định. Khi thận bị tổn thương, khả năng điều hòa huyết áp giảm, làm cho huyết áp bị tăng cao. Với bệnh nhân suy thận, huyết áp cao lại làm cho bệnh thận trầm trọng hơn. Có thể thấy, tăng huyết áp và suy thận là hai biến chứng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Khi huyết áp tăng dẫn đến biến chứng suy thận và ngược lại, bởi vậy, bệnh nhân cần có biện pháp thích hợp để phòng tránh biến chứng nguy hiểm này.

– Biểu hiện của biến chứng suy thận ở bệnh nhân Tăng huyết áp: Bệnh suy thận thường xuất hiện các triệu chưng như:phù, mệt mỏi, xanh xao, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần… đó là khi suy thận ở giai đoạn nặng.Tổn thương thận do tăng huyết áp biểu hiện dưới 3 dạng là: albumin niệu vi thể, protein nhiều và suy thận. Vì vậy, người bệnh cao huyết áp cần tiến hành xét nghiệm để đánh giá được mức độ tổn thương thận.

– Ngăn ngừa biến chứng suy thận do tăng huyết áp: Khi đã được chẩn đoán là tăng huyết áp, người bệnh bệnh cần chủ động theo dõi huyết áp bằng cách đo huyết áp tại nhà và ghi vào sổ, đồng thời nên đi khám sức khỏe định kì để kiểm tra được chức năng thận cũng như các bộ phận khác. Bệnh nhân cao huyết áp rất dễ bị suy thận, vì vậy ngay khi có dấu hiệu tăng huyết áp, người bệnh cần đến bệnh viện tiến hành làm các xét nghiệm để đánh giá chức năng thận và tổn thương của các cơ quan khác nhằm đưa ra biện pháp điều trị ( nhất là lựa chọn thuốc và tư vấn diều trị khác) nhằm bảo vệ thận và các cơ quan liên quan.

Image: epnet

(còn nữa)


ĐĂNG NHẬP FACEBOOK ĐỂ BÌNH LUẬN




BÌNH LUẬN KHÔNG CẦN ĐĂNG NHẬP FACEBOOK

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *